Sử Dụng Thuốc Trong Điều Trị Rối Loạn Thái Dương Hàm (TMJ) (2026)
Trước khi bác sĩ kê đơn thuốc, họ phải hiểu rõ về thuốc và cách sử dụng thuốc an toàn với từng bệnh nhân cụ thể. Bác sĩ cũng phải chú ý đến cách kê đơn thuốc.
Vì nhiều bệnh TMD có các triệu chứng theo chu kỳ, nên có xu hướng kê đơn theo hướng “uống khi cần thiết”. Kiểu điều trị này có thể khuyến khích bệnh nhân lạm dụng thuốc, dẫn đến phụ thuộc về thể chất hoặc tâm lý. Các loại thuốc được bệnh nhân lạm dụng nhiều nhất là thuốc giảm đau gây ngủ và thuốc giải lo âu (thuốc an thần). Tiếp tục sử dụng thuốc "khi cần thiết" có xu hướng dẫn đến chu kỳ đau thường xuyên hơn và hiệu quả của thuốc kém hơn.
Gợi ý chung: Khi chỉ định thuốc cho TMD, nên kê đơn đều đặn trong một khoảng thời gian cụ thể (ví dụ: ba lần một ngày trong 10 ngày). Vào cuối thời gian này, hy vọng rằng việc điều trị dứt điểm sẽ giúp giảm các triệu chứng và không cần dùng thuốc nữa.
Thuốc giảm đau
Thuốc giảm đau ảnh hưởng đến quá trình nhận cảm đau; do đó chúng hữu ích trong việc giảm đau cho bệnh nhân. Giảm đau thường có thể là một phần quan trọng của liệu pháp hỗ trợ cho nhiều bệnh TMD. Trong các rối loạn mà cơn đau sâu thực sự là căn nguyên của rối loạn (đau cơ vòng lặp), thuốc giảm đau đại diện cho một phương pháp điều trị dứt điểm.
Thuốc giảm đau là các chế phẩm thuốc gây nghiện hoặc không gây nghiện.
- Thuốc giảm đau nonopiate là một nhóm không đồng nhất có hiệu quả đối với các cơn đau nhẹ đến trung bình liên quan đến TMD.
- Một trong những loại thuốc đầu tiên được lựa chọn để giảm đau vừa phải là acetaminophen (Tylenol). Thuốc này thường được dung nạp tốt, ít tác dụng phụ nhất.
- Aspirin (axit salicylic) ức chế tổng hợp prostaglandin, là nguyên mẫu cho các hợp chất giảm đau. Nếu bệnh nhân nhạy cảm với aspirin, thì 1 aspirin không acetyl hóa như choline magnesium trisalicylate (Trilisate), hoặc salsalate (Disalcid) có thể có hiệu quả.
- Một nhóm thuốc giảm đau khác bao gồm các dẫn xuất axit propionic (ví dụ: ibuprofen, naproxen, meloxicam, diclofenac...) giúp giảm đau cơ xương rất tốt.
Một tác dụng phụ thường gặp là kích ứng đường tiêu hóa. Nên chỉ dẫn bệnh nhân dùng những loại thuốc này cùng với thức ăn. Ở những bệnh nhân báo cáo giảm đau tốt nhưng cảm thấy khó chịu dạ dày, có thể thêm thuốc ức chế bơm proton (ví dụ: omeprazole).
Thuốc giảm đau phối hợp
Các sản phẩm này sử dụng nguyên tắc một số loại thuốc có thể kết hợp với nhau để giảm đau tốt hơn. Một ví dụ phổ biến là Anacin (aspirin + caffeine), Excedrin, hoặc Ultracet (tramadol + acetaminophen).
Trong những trường hợp hiếm, cơn đau cấp tính từ trung bình đến nghiêm trọng có thể cần thuốc giảm đau mạnh hơn (codeine hoặc hydrocodone kết hợp với acetaminophen). Tuy nhiên, các chất gây nghiện mạnh (oxycodone, morphine, methadone) thường chống chỉ định cho chứng đau cơ xương do nguy cơ lạm dụng.
Thuốc kháng viêm
Các loại thuốc chống viêm được sử dụng khi bác sĩ lâm sàng nghi ngờ sự hiện diện của viêm (viêm bao khớp, viêm mô sau đĩa hoặc viêm xương khớp TMJ).
Nhóm thuốc kháng viêm đường uống chính là thuốc chống viêm không steroid (NSAID). NSAID hoạt động bằng cách ức chế enzym cyclooxygenase (COX), từ đó ngăn tổng hợp prostaglandin (chất trung gian gây đau và viêm). Khi được sử dụng thường xuyên (ít nhất 2 đến 3 tuần), NSAID có thể khá hữu ích trong việc kiểm soát viêm khớp cũng như đau cơ trung ương mãn tính.
Chất ức chế COX-2: Một nhóm NSAID thế hệ mới (ví dụ: celecoxib - Celebrex) chủ yếu ức chế con đường COX-2, làm giảm viêm mà không ảnh hưởng nhiều đến chức năng bảo vệ dạ dày của COX-1. Thuốc này có ưu điểm là ít tác dụng phụ lên dạ dày và chỉ cần dùng 1-2 lần/ngày.
Corticosteroid: Là thuốc chống viêm mạnh, nhưng do tác dụng phụ toàn thân, thường không được kê đơn rộng rãi cho TMD. Ngoại lệ là điều trị viêm cơ khớp khu trú cấp tính ngắn ngày (ví dụ: Methylprednisolone dạng Medrol Dosepak giảm liều dần trong 6 ngày). Ketorolac (Toradol) cũng có thể dùng cho cơn đau cấp tính nặng nhưng không quá 5 ngày.
Thuốc giãn cơ
Hầu hết các bác sĩ đều đồng ý rằng hiệu quả thực sự của thuốc giãn cơ tại chỗ là rất ít, vì hầu hết các tình trạng đau cơ nhai không liên quan đến sự gia tăng hoạt động co thắt cơ quá mức. Sự hiệu quả của nhóm thuốc này chủ yếu đến từ tác dụng phụ an thần trung ương, giúp bệnh nhân thư giãn và ngủ ngon hơn.
- Bệnh nhân dùng thuốc giãn cơ nên được cảnh báo về tác dụng buồn ngủ và không được lái xe hoặc làm việc nặng.
- Một số thuốc giãn cơ trung ương có sẵn kết hợp với thuốc giảm đau (Parafon Forte, Norgesic Forte).
- Cyclobenzaprine (Flexeril): Thuốc này tương tự như thuốc chống trầm cảm ba vòng, rất có tác dụng với đau cơ TMD. Một liều duy nhất từ 5-10 mg trước khi ngủ có thể giảm đau cơ, đặc biệt là vào buổi sáng.
Thuốc chống lo âu
Khi mức độ căng thẳng cảm xúc (stress) cao là nguyên nhân dẫn đến bệnh TMD, thuốc giải lo âu có thể hữu ích trong việc kiểm soát các triệu chứng (vai trò hỗ trợ, không loại bỏ tận gốc stress).
Nhóm Benzodiazepin (diazepam - Valium) thường được sử dụng. Một liều duy nhất (2,5 đến 5 mg) diazepam trước khi đi ngủ giúp thư giãn cơ và giảm nghiến răng về đêm. Tuy nhiên, do nguy cơ phụ thuộc (gây nghiện), không nên sử dụng liên tục quá 7 - 14 ngày đối với các tình trạng mãn tính.
Thuốc chống trầm cảm
Thuốc chống trầm cảm ba vòng (TCA) hiện nay hiếm khi dùng cho bệnh trầm cảm, nhưng lại có giá trị cực lớn trong điều trị đau mãn tính và đau thần kinh.
- Amitriptyline: Một liều rất thấp (10 mg) trước khi ngủ có tác dụng giảm đau mãn tính, cải thiện chất lượng giấc ngủ (tăng giấc ngủ sâu giai đoạn IV) và giảm chứng nghiến răng. Tác dụng giảm đau này hoàn toàn độc lập với tác dụng chống trầm cảm (đòi hỏi liều cao gấp 10-20 lần).
- Các thuốc thế hệ mới như SSRI (Prozac, Paxil) và SNRI (Cymbalta, Savella) đã được chứng minh là cải thiện giảm đau trong hội chứng đau cơ xơ hóa (Fibromyalgia) và có thể hỗ trợ điều trị chứng đau cơ trung ương mãn tính.
Lưu ý: Bác sĩ RHM chỉ dùng thuốc này để kiểm soát đau/giấc ngủ. Nếu bệnh nhân thực sự bị trầm cảm, cần chuyển tuyến chuyên khoa Tâm thần.
Thuốc chống co giật
Khi các cơn đau kéo dài (đau mãn tính), hệ thần kinh trung ương biểu hiện sự "nhạy cảm trung ương", làm cơn đau phóng đại và kéo dài. Thuốc chống co giật (ví dụ: Gabapentin, Pregabalin) giúp ổn định màng thần kinh, làm giảm sự kích thích này.
Nhóm thuốc này không dùng cho đau TMD cấp tính, nhưng rất hữu ích cho bệnh nhân đau cơ xơ hóa, đau thần kinh hoặc đau TMD mãn tính không đáp ứng với các thuốc thông thường.
Thuốc tiêm
Thuốc tiêm có thể hỗ trợ cả chẩn đoán và điều trị TMD:
- Gây tê tại chỗ (Lidocain 2%, Mepivacain 3%): - Chẩn đoán: Tiêm vào cơ hoặc khớp để phân biệt nguồn gốc đau thực sự.
- Điều trị: Tiêm vào điểm kích hoạt đau cân cơ (Trigger point) giúp phá vỡ chu kỳ đau, làm giảm nhạy cảm thần kinh trung ương.
- Corticosteroid nội khớp: Tiêm vào khớp TMJ để giảm viêm cấp tính (ví dụ do viêm khớp dạng thấp). Tuy nhiên, tiêm lặp lại nhiều lần có thể gây hại cho cấu trúc sụn khớp và nên tránh lạm dụng.
- Natri hyaluronate: Tiêm vào khớp (thường sau thủ thuật chọc dò khớp - Arthrocentesis) để bôi trơn và nuôi dưỡng sụn khớp, hỗ trợ điều trị dời đĩa.
- Ketorolac (Toradol): Tiêm bắp giảm đau cấp tính mạnh và nhanh.
Thuốc bôi ngoài da
Thuốc bôi tại chỗ (Topical medications) có ưu điểm là chỉ thấm vào mô cục bộ, tránh tác dụng phụ toàn thân:
- Thuốc gây tê tại chỗ: Gel lidocain hoặc miếng dán Lidoderm 5%.
- NSAID bôi tại chỗ: Gel natri diclofenac (Voltaren) hoặc kem ibuprofen/ketoprofen.
- Capsaicin (Zostrix): Chiết xuất từ ớt cay. Hoạt động bằng cách kích thích liên tục thụ thể đau ngoài da làm cạn kiệt chất dẫn truyền thần kinh, từ đó làm giảm cảm giác đau. Cần bôi đều đặn 3 lần/ngày trong 7-10 ngày để thấy hiệu quả.
Nguồn: Okeson, J. P., & Okeson, J. P. (2013). Management of temporomandibular disorders and occlusion. St. Louis: Mosby.
Nha Khoa Asia
Hệ thống nha khoa uy tín hàng đầu, mang lại nụ cười rạng rỡ cho hàng triệu khách hàng.





